DichDung.comDịch Đúng
Đọc và đối chiếu song ngữ

Hợp đồng thuê nhà song ngữ với người nước ngoài: những điều khoản hay hiểu khác

Hợp đồng thuê nhà song ngữ với người nước ngoài: tiền thuê gồm gì, cọc và hao mòn tự nhiên, gia hạn, chấm dứt sớm, sửa chữa, tạm trú, cách đối chiếu trước khi ký.

Wide interior shot of a bright furnished Vietnamese apartment living room, a set of keys and two blank sheets on a glass coffee table, afternoon sun, warm cream and olive palette

Hợp đồng thuê nhà song ngữ giữa chủ nhà Việt Nam và người thuê nước ngoài hay sinh tranh cãi ở năm chỗ: tiền thuê đã gồm những gì, tiền cọc được trừ vì lý do nào, gia hạn và chấm dứt sớm, ai sửa chữa cái gì, và thủ tục tạm trú, thuế. Nguyên nhân thường không phải do ai gian dối, mà do hai bản ngôn ngữ dùng chữ có phạm vi khác nhau, và hai bên mang theo tập quán thuê nhà của nước mình.

Bài này viết cho cả hai phía: chủ nhà cho thuê căn hộ, nhà phố; người Việt đi thuê nhà ở nước ngoài; người nước ngoài thuê nhà tại Việt Nam đọc bản tiếng Việt. Nó chỉ ra chỗ hai bản hay vênh và cách viết lại cho rõ. Thủ tục và nghĩa vụ thuế nêu ở mức nguyên tắc; hãy kiểm quy định hiện hành và hỏi cơ quan có thẩm quyền khi cần.

Vì sao hợp đồng thuê nhà song ngữ hay sinh hiểu lầm

Hợp đồng thuê nhà là loại hợp đồng mà hai bên thường không có luật sư, dùng mẫu tải về hoặc mẫu của môi giới, và dịch nhanh trước ngày dọn vào. Người thuê nước ngoài đọc bản tiếng Anh, chủ nhà đọc bản tiếng Việt, và mỗi người đọc thấy điều mình mong đợi. Khác biệt chỉ lộ ra khi trả nhà, khi điều hoà hỏng, hay khi người thuê phải chuyển công tác giữa chừng.

Tập quán là nguồn hiểu lầm thứ hai. Ở nhiều nước, tiền cọc phải để ở tài khoản riêng và trả lại trong thời hạn luật định; người thuê quen như vậy sẽ chờ đợi điều tương tự. Ở nơi khác, giá thuê thường đã gồm phí quản lý và internet. Chủ nhà Việt Nam lại có thể quen thu phí quản lý riêng, tính điện theo giá kinh doanh, hay giữ cọc tới khi nhận hoá đơn điện nước tháng cuối. Hợp đồng không viết rõ thì mỗi bên áp tập quán của mình.

Vì vậy nguyên tắc đối chiếu ở đây hơi khác hợp đồng thương mại: ngoài việc so hai bản có khớp nhau không, phải hỏi cả hai bản có đủ cụ thể để không ai phải đoán không.

Tiền: những chữ hai bên hay hiểu khác

Mỗi dòng dưới đây nên được viết thành con số hoặc danh sách cụ thể trong cả hai bản:

Chữ trong hợp đồngCách hiểu dễ lệchNên viết rõ
Rent, monthly rentĐã gồm hay chưa gồm phí quản lý, internet, dọn phòngLiệt kê từng khoản đã gồm và chưa gồm
UtilitiesĐiện, nước, gas, internet, truyền hình, rác: khoản nào?Danh sách khoản và cách tính giá điện nước
Management feeAi trả cho ban quản lý toà nhàNgười trả và mức hiện tại
Security depositCó phải tiền thuê tháng cuối khôngKhông dùng để trừ tiền thuê, trừ khi hai bên đồng ý bằng văn bản
Advance rentTrả trước mấy tháng, có hoàn khi chấm dứt sớm khôngSố tháng, điều kiện hoàn
Inclusive of taxThuế nào: thuế của chủ nhà cho thuê hay khoản khácBên nào kê khai, nộp thuế cho thuê nhà
Currency, exchange rateGiá ghi bằng ngoại tệ, thanh toán bằng tiền Việt theo tỷ giá nàoĐồng tiền thanh toán, nguồn tỷ giá, ngày áp dụng
Late paymentPhạt bao nhiêu, sau mấy ngàyThời hạn ân hạn và cách tính

Riêng dòng tiền tệ cần thêm lưu ý: pháp luật Việt Nam hạn chế việc niêm yết, thanh toán bằng ngoại hối trong lãnh thổ Việt Nam, với một số trường hợp ngoại lệ. Nhiều hợp đồng ghi giá quy đổi tham khảo bằng ngoại tệ nhưng thanh toán bằng tiền Việt. Hãy kiểm quy định quản lý ngoại hối hiện hành trước khi ghi điều khoản tiền tệ.

Đặt cọc và trả cọc: "fair wear and tear"

Tranh chấp phổ biến nhất của hợp đồng thuê nhà là tiền cọc khi trả nhà. Bản tiếng Anh thường có câu kiểu "the deposit shall be refunded less any deductions for damage beyond fair wear and tear". Fair wear and tear là hao mòn tự nhiên do sử dụng bình thường: sơn tường ngả màu, sàn gỗ mòn ở lối đi, rèm bạc màu nắng. Hao mòn tự nhiên không bị trừ cọc; hư hỏng do sử dụng sai, như tường bị khoan nhiều lỗ không được phép, sàn ngấm nước do quên đóng cửa sổ, mới bị trừ.

Bản tiếng Việt hay dịch gọn thành "trừ chi phí sửa chữa hư hỏng". Câu này rộng hơn bản tiếng Anh, vì không loại trừ hao mòn tự nhiên. Ngược lại, có bản dịch "trừ hư hỏng nặng", hẹp hơn. Đây là chỗ cần đối chiếu từng chữ và nên viết lại thành "hao mòn tự nhiên do sử dụng bình thường" ở bản tiếng Việt.

Cách phòng tranh chấp tốt nhất không nằm ở câu chữ mà ở biên bản bàn giao (inventory, check-in report) có ảnh chụp kèm ngày giờ từng phòng, từng thiết bị lúc nhận và lúc trả. Biên bản nên song ngữ, có chữ ký hai bên, và được dẫn chiếu trong hợp đồng như một phụ lục. Cũng nên ghi rõ thời hạn trả cọc sau khi bàn giao, và cách xử lý hoá đơn điện nước tháng cuối chưa về.

Thời hạn, gia hạn và chấm dứt sớm

Minimum term, lock-in period. Thời hạn tối thiểu mà người thuê cam kết ở. Bản dịch "thời hạn thuê" có thể làm mất ý "tối thiểu", và người thuê tưởng mình có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào chỉ cần báo trước.

Renewal, option to renew. "Option to renew" là quyền của người thuê được gia hạn; "renewal subject to mutual agreement" là hai bên thoả thuận lại. Hai cách này khác nhau về việc chủ nhà có được từ chối hay tăng giá không. Viết rõ ai có quyền quyết định và giá gia hạn được xác định thế nào.

Diplomatic clause. Điều khoản cho phép người thuê là người nước ngoài chấm dứt sớm khi bị điều chuyển công tác hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, thường sau một thời gian tối thiểu và với thời gian báo trước nhất định. Người thuê quen điều khoản này có thể mặc định là nó tồn tại; nếu hợp đồng không có, nên nói rõ.

Early termination. Hậu quả của chấm dứt sớm: mất cọc, trả thêm một khoản, hay chỉ cần báo trước. Bản dịch hay gộp "forfeit the deposit" (mất cọc) với "pay compensation" (bồi thường). Đối chiếu kỹ và ghi rõ con số hoặc cách tính.

Notice. Thông báo phải bằng hình thức nào, gửi tới đâu, bằng ngôn ngữ nào. Tin nhắn qua ứng dụng chat có được coi là thông báo hợp lệ không? Nếu có, ghi rõ tài khoản của mỗi bên.

Sửa chữa, bảo trì và nội quy toà nhà

Hợp đồng tiếng Anh thường chia "structural repairs" (kết cấu, đường ống chính, điện tổng: chủ nhà) và "minor repairs" (bóng đèn, vòi nước nhỏ: người thuê), đôi khi kèm một ngưỡng chi phí: hỏng dưới mức đó người thuê tự sửa. Bản tiếng Việt hay dịch thành "sửa chữa nhỏ" mà không có định nghĩa, dẫn tới tranh luận cái máy giặt hỏng là nhỏ hay lớn. Nên liệt kê theo thiết bị hoặc đặt ngưỡng chi phí rõ ràng. Con số ngưỡng tuỳ hai bên thoả thuận.

Điều hoà là một trường hợp riêng: vệ sinh định kỳ là bảo trì của ai, hỏng do không vệ sinh thì ai chịu. Đồ nội thất có sẵn cũng vậy: hợp đồng nên kèm danh sách nội thất, tình trạng ban đầu, và quy định người thuê có được thay, dời đi hay không.

Nội quy toà nhà (building rules) thường chỉ có bằng tiếng Việt: giờ dùng thang máy chở đồ, quy định nuôi thú cưng, đăng ký khách, phí gửi xe. Người thuê nước ngoài vi phạm vì không đọc được. Nếu hợp đồng dẫn chiếu nội quy, nên đính kèm bản dịch tóm tắt những điểm chính, và ghi rõ bản nội quy tiếng Việt là bản có giá trị.

Tạm trú, thuế và giấy tờ: phần không chỉ là chuyện hai bên

Một số nghĩa vụ không phụ thuộc thoả thuận của hai bên. Theo pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài tạm trú phải được khai báo tạm trú thông qua cơ sở lưu trú, và chủ nhà cho thuê có trách nhiệm liên quan. Cách thức, thời hạn khai báo và cơ quan tiếp nhận có thể đã thay đổi sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025; hãy hỏi công an cấp xã nơi có nhà hoặc tra cổng dịch vụ công hiện hành.

Cho thuê nhà phát sinh nghĩa vụ thuế của bên cho thuê theo quy định hiện hành. Hợp đồng song ngữ hay có câu "rent is inclusive of all taxes" hoặc "the Lessee shall bear all taxes"; hai câu này có hệ quả rất khác, và bản dịch phải giữ đúng. Thoả thuận ai chịu chi phí thuế là chuyện hai bên, nhưng nghĩa vụ kê khai thì theo luật; đừng để điều khoản tiếng Anh làm người thuê tưởng mình phải đi kê khai.

Người thuê làm việc tại Việt Nam thường cần hợp đồng thuê nhà để làm hồ sơ cư trú, giấy phép lao động hay thủ tục cho gia đình. Cơ quan tiếp nhận làm việc trên bản tiếng Việt, nên bản tiếng Việt phải đầy đủ thông tin nhân thân, địa chỉ theo đơn vị hành chính mới, và thời hạn thuê khớp với bản tiếng Anh.

Đối chiếu trước khi ký: quy trình gọn

Một buổi đối chiếu ba mươi phút trước khi ký thường đủ, nếu làm theo thứ tự:

  1. Thống nhất điều khoản ngôn ngữ: bản nào ưu tiên khi vênh. Với hợp đồng thuê nhà tại Việt Nam, nhiều bên chọn bản tiếng Việt vì đó là bản dùng với cơ quan nhà nước.
  2. So mọi con số ở hai bản: giá thuê, cọc, số tháng trả trước, thời hạn, ngày bắt đầu, ngày thanh toán, phạt chậm trả.
  3. Đọc bảng tiền ở mục trên và viết rõ từng khoản đã gồm, chưa gồm.
  4. Đối chiếu từng chữ các điều về cọc, chấm dứt sớm, sửa chữa.
  5. Lập biên bản bàn giao song ngữ có ảnh, đính làm phụ lục.
  6. Ghi rõ kênh thông báo và người liên hệ của mỗi bên.
  7. Ký nháy các trang, mỗi bên giữ một bộ đầy đủ cả hai ngôn ngữ.

Nếu người thuê nhờ công ty của họ hoặc môi giới đọc giúp, khuyến khích điều đó: một người thứ ba đọc kỹ trước khi ký tốt hơn nhiều so với một cuộc tranh luận khi trả nhà. Và khi có thay đổi giữa kỳ thuê, như tăng giá hay đổi người ở cùng, lập phụ lục song ngữ thay vì chỉ nhắn tin thoả thuận.

Câu hỏi thường gặp

Có nên ghi giá thuê bằng đô la Mỹ không?

Pháp luật Việt Nam hạn chế việc niêm yết, thoả thuận và thanh toán bằng ngoại hối trong lãnh thổ, trừ một số trường hợp được phép. Nhiều hợp đồng ghi giá bằng tiền Việt, có thể kèm giá trị tham khảo bằng ngoại tệ. Hãy kiểm quy định quản lý ngoại hối hiện hành hoặc hỏi người có chuyên môn trước khi viết điều khoản này.

Chủ nhà có được giữ cọc tới khi có hoá đơn điện nước tháng cuối không?

Đây là thực tế phổ biến và hợp lý nếu được ghi rõ trong hợp đồng, kèm thời hạn tối đa để trả phần cọc còn lại. Nếu hợp đồng không nói gì, hai bên dễ hiểu khác nhau. Một cách gọn là giữ lại một khoản nhỏ ước tính và trả phần còn lại ngay khi bàn giao.

Người thuê nước ngoài ký hợp đồng chỉ bằng tiếng Anh có được không?

Hai bên có thể thoả thuận ngôn ngữ, nhưng khi cần dùng hợp đồng cho thủ tục với cơ quan nhà nước Việt Nam, thường phải có bản tiếng Việt hoặc bản dịch hợp lệ. Lập song ngữ ngay từ đầu, có điều khoản ngôn ngữ rõ ràng, tiết kiệm công dịch về sau.

Hợp đồng thuê nhà có cần công chứng không?

Tuỳ loại nhà, thời hạn và mục đích sử dụng hợp đồng theo quy định hiện hành; nhiều hợp đồng thuê nhà ở không bắt buộc công chứng nhưng các bên vẫn có thể chọn công chứng. Nếu hợp đồng được dùng làm hồ sơ cho thủ tục khác, hãy hỏi trước cơ quan tiếp nhận yêu cầu gì.

Fair wear and tear nên dịch thế nào?

Cách dịch giữ được nghĩa là "hao mòn tự nhiên do sử dụng bình thường". Nên kèm vài ví dụ hai bên đồng ý trong hợp đồng hoặc biên bản bàn giao, vì ranh giới giữa hao mòn và hư hỏng là chỗ tranh luận nhiều nhất khi trả nhà.

Người Việt thuê nhà ở nước ngoài cần chú ý gì khi đọc hợp đồng?

Hợp đồng chịu luật nơi có nhà, nên quyền về tiền cọc, báo trước, tăng giá có thể khác hẳn Việt Nam. Đọc kỹ các điều về cọc, chấm dứt sớm, bảo hiểm người thuê, và tìm hiểu cơ quan hay tổ chức hỗ trợ người thuê ở nơi đó trước khi ký.

Bài viết liên quan