Trong tiếng Việt, tên người Trung Quốc gần như luôn được viết theo âm Hán Việt của các chữ Hán làm nên tên: Khổng Tử, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn, Kim Dung, Mạc Ngôn. Trong tiếng Anh và hầu hết ngôn ngữ chữ Latinh khác, cùng những tên ấy được viết bằng pinyin, hệ La-tinh hoá chính thức của Trung Quốc: Li Bai, Du Fu, Lu Xun, Jin Yong, Mo Yan.
Hệ quả cho người dịch: muốn ra tên Hán Việt đúng, phải có chữ Hán, không chỉ pinyin, vì một âm pinyin ứng với nhiều chữ khác nhau. Bài này giải thích vì sao tiếng Việt có lối đọc này, cách chuyển từng phần tên, các bẫy hay gặp, tên người Hồng Kông, Đài Loan và chiều ngược lại: viết tên Việt bằng chữ Hán.
Vì sao tiếng Việt đọc tên Trung Quốc theo Hán Việt
Âm Hán Việt là cách người Việt đọc chữ Hán, hình thành qua nhiều thế kỷ tiếp xúc và học chữ. Mỗi chữ Hán có một hoặc vài âm Hán Việt ổn định: 李 đọc là Lý, 白 là Bạch, 杜 là Đỗ, 甫 là Phủ. Vì tên người Trung Quốc được viết bằng chữ Hán, người Việt đọc tên ấy theo âm Hán Việt cũng tự nhiên như đọc bất kỳ từ Hán Việt nào khác.
Lối đọc này có hai lợi ích thực tế. Thứ nhất, tên nghe gần gũi, dễ nhớ, đúng với nhịp âm tiết tiếng Việt. Thứ hai, ai biết chữ Hán có thể từ tên Hán Việt suy ngược ra chữ gốc, và hiểu luôn nghĩa của tên. Đây là điều mà phiên âm theo cách đọc tiếng Bắc Kinh không làm được. Người Hàn và người Nhật cũng từng có lối đọc tương tự cho tên Trung Quốc theo âm Hán của ngôn ngữ mình.
Bất lợi là người Việt và người nước ngoài nói về cùng một người mà không nhận ra nhau: "Lỗ Tấn" và "Lu Xun" không giống nhau chút nào. Khi tra tài liệu tiếng Anh, sinh viên Việt Nam thường phải đi qua một bước trung gian là tìm chữ Hán. Vì vậy, trong văn bản học thuật, nên ghi kèm pinyin, và nếu được thì chữ Hán, ở lần nhắc đầu tiên: Lỗ Tấn (Lu Xun, 魯迅).
Các họ Trung Quốc phổ biến: chữ Hán, pinyin và Hán Việt
Bảng dưới là một số họ thường gặp. Chú ý những dòng mà một âm pinyin ứng với nhiều chữ, cũng là nơi bản dịch hay sai nhất.
| Chữ Hán | Pinyin | Hán Việt |
|---|---|---|
| 王 | Wang | Vương |
| 李 | Li | Lý |
| 張 | Zhang | Trương |
| 劉 | Liu | Lưu |
| 陳 | Chen | Trần |
| 楊 | Yang | Dương |
| 黃 | Huang | Hoàng |
| 趙 | Zhao | Triệu |
| 吳 | Wu | Ngô |
| 周 | Zhou | Chu, Châu |
| 徐 / 許 | Xu | Từ / Hứa |
| 林 | Lin | Lâm |
| 郭 | Guo | Quách |
| 馬 | Ma | Mã |
Dòng "Xu" là ví dụ kinh điển: cùng một pinyin nhưng 徐 là Từ, 許 là Hứa. Tương tự, pinyin "Li" có thể là 李 (Lý), 黎 (Lê) hay 利 (Lợi); "Zhu" có thể là 朱 (Chu) hay 祝 (Chúc). Ngay họ 周 cũng có hai cách đọc Hán Việt quen dùng là Chu và Châu, tuỳ thói quen vùng miền và truyền thống văn bản. Không có chữ Hán, người dịch đang đoán.
Pinyin, Wade–Giles và những dạng Latinh khác
Pinyin là hệ chuẩn hiện nay. Hệ Hán ngữ Bính âm (Hanyu Pinyin) được Trung Quốc đưa vào sử dụng từ năm 1958 và trở thành chuẩn quốc tế ISO 7098 năm 1982. Tên người, địa danh Trung Quốc đại lục trong văn bản tiếng Anh hiện đại gần như đều theo pinyin. Pinyin viết họ trước, tên sau; tên hai âm tiết viết liền một chữ: Mo Yan, Jin Yong là bút danh, còn tên thường như Zhang Xiaoming thì "Xiaoming" viết liền.
Wade–Giles là hệ cũ, còn trong tài liệu trước thập niên 1980. Hệ này dùng dấu nháy và gạch nối: Lao-tzu (pinyin Laozi), Chuang-tzu (Zhuangzi). Một số tên quen thuộc với phương Tây cố định từ thời đó, như Confucius, là dạng La-tinh hoá của các nhà truyền giáo, không theo hệ nào hiện nay. Gặp tên dạng cũ, đừng ngại: đổi sang pinyin để tra, rồi từ chữ Hán ra Hán Việt.
Tên người Hồng Kông, Ma Cao thường theo cách đọc tiếng Quảng Đông. Lý Tiểu Long (李小龍, nghệ danh) có tên khai sinh 李振藩, viết theo âm Quảng là Lee Jun-fan, còn tên tiếng Anh là Bruce Lee. Họ 陳 ở Hồng Kông thường viết Chan, ở đại lục viết Chen, nhưng tiếng Việt đều là Trần. Nhiều người còn có tên tiếng Anh đặt trước họ. Người dịch không nên "chuẩn hoá" các dạng này về pinyin, vì đó là cách chính chủ viết tên mình.
Tên người Đài Loan có thể theo nhiều hệ. Ở Đài Loan, tên người trong hộ chiếu có thể theo Wade–Giles, pinyin hoặc hệ khác do người mang tên chọn, nên cùng một họ có các dạng Chang, Zhang, Jhang. Với tên một người cụ thể, dạng ghi trong giấy tờ hoặc người đó tự dùng là dạng đúng ở tiếng Anh; tiếng Việt vẫn theo Hán Việt.
Chuyển tên Trung Quốc sang Hán Việt từng bước
Quy trình dưới đây giúp ra tên đúng mà không phải đoán. Ví dụ dùng tên giả định Zhang Xiaoming.
- Tìm chữ Hán gốc. Nguồn tốt nhất là chính văn bản gốc tiếng Trung, danh thiếp, chữ ký, trang chính thức của người hoặc tổ chức. Với nhân vật lịch sử, từ điển bách khoa tiếng Trung luôn ghi chữ Hán. Ví dụ: 張曉明.
- Tách họ và tên. Phần lớn họ có một chữ, một số họ kép có hai chữ như 歐陽 (Âu Dương), 司馬 (Tư Mã), 諸葛 (Gia Cát). Ở đây họ là 張, tên là 曉明.
- Tra âm Hán Việt từng chữ bằng từ điển Hán Việt, chọn âm theo nghĩa nếu chữ có nhiều âm: 張 Trương, 曉 Hiểu, 明 Minh.
- Ghép theo trật tự họ trước tên sau, viết hoa từng âm tiết: Trương Hiểu Minh.
- Ghi kèm pinyin ở lần đầu nếu văn bản có giá trị tra cứu: Trương Hiểu Minh (Zhang Xiaoming).
Hai điểm cần cẩn trọng. Thứ nhất, chữ giản thể và phồn thể khác dạng nhưng cùng âm Hán Việt: 张 và 張 đều là Trương. Thứ hai, một vài chữ có hai âm Hán Việt dùng trong tên khác nhau, và một số tên quen thuộc đã cố định theo một âm riêng trong tiếng Việt. Gặp tên nhân vật nổi tiếng, kiểm cách viết đã được dùng rộng rãi trong sách báo Việt trước khi tự ghép.
Tên Việt Nam viết bằng chữ Hán và pinyin
Chiều ngược lại xảy ra khi doanh nghiệp, sinh viên, người lao động Việt Nam làm việc với đối tác Trung Quốc và cần tên trên danh thiếp, hợp đồng, hồ sơ. Phần lớn họ Việt có chữ Hán tương ứng rõ: Nguyễn 阮 (pinyin Ruan), Trần 陳 (Chen), Lê 黎 (Li), Phạm 范 (Fan), Hoàng và Huỳnh đều là 黃 (Huang), Phan 潘 (Pan), Vũ và Võ đều là 武 (Wu), Đặng 鄧 (Deng), Bùi 裴 (Pei), Đỗ 杜 (Du), Ngô 吳 (Wu). Chữ đệm Văn là 文, Thị là 氏.
Phần tên mới là chỗ khó. Một âm Hán Việt như "Hương" có thể là 香 (thơm) hay 鄉 (quê); "Anh" có thể là 英 hay 瑛. Cha mẹ đặt tên thường không ghi chữ Hán, nên người dịch không có quyền chọn thay. Cách đúng là hỏi người mang tên muốn ý nghĩa nào, hoặc đề xuất hai ba phương án kèm nghĩa để họ chọn, rồi giữ cố định cho mọi giấy tờ sau này. Tên thuần Việt không có gốc Hán thì chọn chữ Hán có âm gần, và phải nói rõ đây là chữ chọn theo âm.
Trong văn bản tiếng Trung chính thức, tên người Việt có thể được ghi bằng chữ Hán, nhưng giấy tờ tuỳ thân Việt Nam chỉ có chữ Quốc ngữ. Khi hồ sơ đòi khớp với hộ chiếu, tên trên hộ chiếu mới là tên pháp lý; chữ Hán chỉ là phần bổ trợ. Bài này viết về nguyên tắc chung; hồ sơ nộp cơ quan Trung Quốc có quy định riêng cần kiểm theo yêu cầu nơi nhận.
Nhân vật lịch sử và văn học: những tên đã cố định
Hai nhà tư tưởng có tên La-tinh hoá riêng. Khổng Tử trong tiếng Anh là Confucius, Mạnh Tử là Mencius; đây là dạng các học giả châu Âu tạo ra từ vài thế kỷ trước, vẫn là dạng chuẩn trong văn bản tiếng Anh. Dịch Việt sang Anh mà viết "Kong Zi" hay "Kongfuzi" thì người đọc chuyên ngành hiểu, nhưng người đọc phổ thông không nhận ra.
Chữ "Tử" là tôn xưng, không phải tên. Lão Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử: "Tử" nghĩa là "thầy", gắn vào họ hoặc tên như một cách tôn xưng. Pinyin ghi là Laozi, Zhuangzi, Xunzi, Han Feizi; văn bản cũ ghi Lao-tzu, Chuang-tzu. Khi dịch sang tiếng Anh, dùng dạng pinyin là thông lệ hiện nay; không dịch "Tử" thành "Master" trong tên trừ khi đang giải thích.
Nhân vật tiểu thuyết cổ điển có tên Hán Việt quen hơn cả tên thật. Người đọc Việt biết Tào Tháo, Gia Cát Lượng, Tôn Ngộ Không, Lâm Đại Ngọc qua bản dịch và phim ảnh, nên văn bản tiếng Việt giữ đúng các dạng này. Sang tiếng Anh, chúng là Cao Cao, Zhuge Liang, Sun Wukong, Lin Daiyu; một số bản dịch tiếng Anh còn dịch nghĩa tên nhân vật, như gọi Tôn Ngộ Không là Monkey King. Khi dịch tài liệu bàn về tác phẩm, theo dạng mà bản dịch tiếng Anh được trích dùng.
Niên hiệu, tước hiệu là một tầng khác tên riêng. Vua Trung Hoa thường được nhắc bằng miếu hiệu hoặc niên hiệu, như Khang Hy, Càn Long, là tên niên hiệu chứ không phải tên người. Tiếng Anh viết Kangxi Emperor, Qianlong Emperor. Không ghép thêm họ vào niên hiệu, vì đó là hai hệ gọi khác nhau.
Lỗi hay gặp khi dịch tên người Trung Quốc
Các lỗi dưới đây xuất hiện thường xuyên trong bản dịch tin tức, tài liệu thương mại và luận văn.
| Lỗi | Ví dụ giả định | Cách tránh |
|---|---|---|
| Đoán chữ Hán từ pinyin | Xu Wei dịch thành Hứa Vĩ trong khi chữ gốc là 徐 (Từ) | Luôn tìm chữ Hán gốc trước khi chuyển |
| Đảo trật tự họ tên theo kiểu phương Tây | Xiaoming Zhang dịch thành Minh Hiểu Trương | Nhận diện họ trước; tiếng Việt viết họ trước |
| Trộn pinyin và Hán Việt trong một văn bản | Lý Bạch và Du Fu cùng thời | Văn bản tiếng Việt dùng Hán Việt nhất quán |
| Dịch nghĩa tên người | Xiaoming thành "Bình Minh Nhỏ" | Tên là tên riêng, không dịch nghĩa trong thân văn |
| Chuẩn hoá tên tiếng Anh tự chọn | Bruce Lee viết thành Li Xiaolong trong bản dịch Anh | Giữ dạng người mang tên dùng; tiếng Việt vẫn Lý Tiểu Long |
| Bỏ dấu gạch ở tên hai âm tiết kiểu Hồng Kông | Lee Junfan, Jun Fan Lee lẫn lộn | Chép đúng dạng trong nguồn gốc của người đó |
Với văn bản thương mại, một bảng tên riêng ba cột (chữ Hán, pinyin, Hán Việt) cho mọi người và công ty xuất hiện trong hồ sơ là công cụ rẻ nhất để tránh nhầm. Bảng này cũng giúp đối chiếu khi một đối tác xuất hiện trong email bằng pinyin và trong hợp đồng bằng chữ Hán.
Câu hỏi thường gặp
Có trường hợp nào báo chí Việt viết tên người Trung Quốc bằng pinyin không?
Có, nhưng ít. Một số nghệ sĩ, vận động viên, doanh nhân trẻ được nhắc bằng tên tiếng Anh hoặc pinyin khi họ hoạt động chủ yếu bằng tên quốc tế, và người đọc Việt biết họ qua dạng đó. Với nhân vật lịch sử, văn học và đa số tin thời sự, Hán Việt vẫn là thông lệ.
Tên Hán Việt của một người có phải duy nhất không?
Gần như duy nhất nếu biết chữ Hán, vì mỗi chữ có âm Hán Việt ổn định. Ngoại lệ là chữ có hai âm và vài họ có hai cách đọc quen dùng như Chu hay Châu. Khi tên đã được dùng rộng rãi trong sách báo Việt Nam, theo dạng đã quen để người đọc nhận ra.
Họ kép như Âu Dương, Gia Cát viết liền hay tách?
Tiếng Việt viết thành hai âm tiết, mỗi âm tiết viết hoa: Âu Dương Tu, Gia Cát Lượng. Trong pinyin, họ kép viết liền: Ouyang, Zhuge. Khi chuyển, cần nhận ra đó là họ kép để không tách nhầm chữ thứ hai vào phần tên.
Tên địa danh Trung Quốc có theo quy tắc giống tên người không?
Phần lớn địa danh lớn có tên Hán Việt quen dùng như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến. Địa danh nhỏ, ít gặp thì một số ấn phẩm dùng Hán Việt, một số dùng pinyin để người đọc tra cứu. Văn bản thương mại, logistics thường ghi cả hai để khớp với chứng từ.
Tên tiếng Anh mà người Trung Quốc tự đặt có cần dịch sang tiếng Việt không?
Không dịch nghĩa. Nếu văn bản gốc chỉ có tên tiếng Anh như Michael Wang, giữ nguyên dạng đó trong bản dịch tiếng Việt. Nếu biết cả chữ Hán, có thể ghi tên Hán Việt kèm tên tiếng Anh ở lần đầu để người đọc nhận ra cùng một người trong các tài liệu khác.
Chữ giản thể và phồn thể có làm tên Hán Việt khác đi không?
Không. Giản thể chỉ là cách viết gọn của cùng chữ, âm Hán Việt không đổi: 陈 và 陳 đều là Trần. Vấn đề duy nhất là một số chữ giản thể gộp hai chữ phồn thể khác nghĩa thành một, khi đó cần ngữ cảnh hoặc chữ phồn thể gốc để biết âm và nghĩa chính xác.