DichDung.comDịch Đúng
Thuật ngữ chuẩn theo lĩnh vực

Tên văn bản pháp luật Việt Nam trong tiếng Anh: luật, nghị định, thông tư, nghị quyết

Luật là Law, nghị định là Decree, thông tư là Circular — nhưng còn bộ luật, pháp lệnh, chỉ thị, công văn, số hiệu, điều khoản điểm. Bảng tra và các bẫy hay gặp.

Close-up of a lawyer hand resting on a tall stack of plain white bound folders beside a wooden gavel, cool morning light, slate grey and ivory palette, shallow depth of field

Cách dịch thường dùng và được người đọc quốc tế hiểu là: Hiến pháp – Constitution, Bộ luật – Code, Luật – Law, Pháp lệnh – Ordinance, Nghị quyết – Resolution, Nghị định – Decree, Quyết định – Decision, Thông tư – Circular, Chỉ thị – Directive, Công văn – Official Letter. Số hiệu giữ nguyên, bỏ dấu tiếng Việt: Nghị định số 15/2020/NĐ-CP thành Decree No. 15/2020/ND-CP.

Đây là cách dịch đã ổn định trong các bản dịch tham khảo lưu hành rộng rãi, không phải một danh mục do luật quy định. Bản tiếng Việt luôn là bản có giá trị pháp lý; bản tiếng Anh chỉ giúp người nước ngoài hiểu. Phần dưới giải thích vì sao chọn từng chữ, những chỗ người dịch hay lẫn (Law hay Act, Decision hay Decree, Clause hay Paragraph) và cách ghi trích dẫn cho nhất quán.

Bảng tra tên các loại văn bản thường gặp

Bảng dưới gom các loại văn bản người đọc gặp nhiều nhất trong hợp đồng, hồ sơ đầu tư và tài liệu tuân thủ. Cột thứ ba là cách viết khi trích tên một văn bản cụ thể.

Tiếng ViệtCách dịch thường dùngVí dụ cách ghi
Hiến phápConstitutionthe 2013 Constitution
Bộ luậtCodethe Civil Code, the Labour Code
LuậtLawthe Law on Enterprises
Pháp lệnhOrdinanceOrdinance No. …/…/UBTVQH…
Nghị quyếtResolutionResolution No. …/NQ-CP
Nghị địnhDecreeDecree No. …/ND-CP
Quyết địnhDecisionDecision No. …/QD-TTg
Thông tưCircularCircular No. …/TT-BTC
Thông tư liên tịchJoint CircularJoint Circular No. …/TTLT-…
Chỉ thịDirectiveDirective No. …/CT-TTg
Công vănOfficial Letter (có nơi dùng Official Dispatch)Official Letter No. …

Hai chữ đáng chú ý nhất là Code và Law. Bộ luật trong hệ thống Việt Nam là văn bản pháp điển hoá cả một lĩnh vực lớn, gần với khái niệm code trong truyền thống luật châu Âu lục địa, nên gọi Civil Code, Criminal Code, Labour Code là đúng tinh thần. Gọi Bộ luật Dân sự là Civil Law thì sai, vì civil law trong tiếng Anh còn chỉ cả một hệ thống pháp luật (đối lập với common law), người đọc sẽ hiểu lệch.

Luật nên dịch là Law hay Act?

Ở Anh, Úc, Mỹ, đạo luật do nghị viện thông qua thường gọi là Act: Companies Act 2006, Data Protection Act. Vì thế có người cho rằng Luật Doanh nghiệp phải là Enterprise Act. Lập luận này không sai về mặt ngôn ngữ, nhưng trong thực tế dịch văn bản Việt Nam, cách viết Law on… đã phổ biến tới mức trở thành quy ước: Law on Enterprises, Law on Investment, Law on Land. Tra trong hợp đồng của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, trong ấn phẩm của các hãng luật, trong tài liệu của tổ chức quốc tế, bạn sẽ gặp Law on nhiều hơn hẳn.

Nguyên tắc chọn ở đây là dễ tra cứu hơn đẹp câu chữ. Người đọc nước ngoài cầm một tên văn bản sẽ đi tìm bản dịch tham khảo, tìm bình luận của luật sư, tìm trong cơ sở dữ liệu. Tên càng khớp với cách đa số đang viết thì họ càng tìm ra. Nếu khách hàng hoặc đối tác đã có bảng thuật ngữ riêng ghi Act, cứ theo bảng của họ; điều quan trọng là cả văn bản chỉ dùng một kiểu.

Còn một lựa chọn nhỏ: Law on Enterprises hay Enterprise Law. Cả hai đều gặp, nhưng dạng có giới từ on bám sát cấu trúc tên tiếng Việt ("Luật về…") và tránh được những tên dài khó ghép như Law on Prevention and Control of…. Khi một luật có năm ban hành và có nhiều phiên bản, nên ghi năm và số hiệu: Law on Enterprises No. 59/2020/QH14, vì chỉ ghi "Law on Enterprises" thì người đọc không biết là bản 2014 hay 2020.

Năm cặp dễ dịch lẫn và vì sao

Nghị định – Decree, không phải Regulation. Trong tiếng Anh, regulation là chữ chung cho "quy định" và còn là tên một loại văn bản của Liên minh châu Âu. Dịch Nghị định là Regulation khiến người đọc không phân biệt được với quy định nói chung. Decree vốn chỉ văn bản do cơ quan hành pháp ban hành, khớp với vị trí của nghị định do Chính phủ ban hành.

Quyết định – Decision, không phải Decree. Quyết định của Thủ tướng, của bộ trưởng, của Uỷ ban nhân dân đều là Decision. Dịch thành Decree là nâng nhầm thứ bậc văn bản, và khi một tài liệu trích cả nghị định lẫn quyết định thì người đọc không còn phân biệt được.

Nghị quyết – Resolution, kể cả nghị quyết của Quốc hội. Có nghị quyết là văn bản quy phạm, có nghị quyết không. Tiếng Anh resolution đủ rộng cho cả hai; đừng thêm chữ để "giải thích" trong tên.

Thông tư – Circular, không phải Guideline. Thông tư thường quy định chi tiết, hướng dẫn luật và nghị định, nhưng nó là văn bản có tính bắt buộc. Guideline gợi cảm giác tham khảo, không bắt buộc, dễ khiến đối tác coi nhẹ.

Công văn – Official Letter, không phải Document. Document là "tài liệu" nói chung. Công văn thường không phải văn bản quy phạm; nó trả lời, hướng dẫn hoặc thông báo. Nếu bản dịch dùng nó làm căn cứ, nên ghi rõ đó là Official Letter để người đọc biết giá trị của nó khác nghị định, thông tư.

Dịch phần bên trong văn bản: chương, điều, khoản, điểm

Lỗi hay gặp nhất không nằm ở tên văn bản mà ở cách trích dẫn bên trong. Một hợp đồng ghi "theo điểm b khoản 2 Điều 5" mà bản tiếng Anh viết lung tung thì đối tác không lần ra chỗ được dẫn.

Tiếng ViệtCách dịch thường dùngGhi chú
PhầnPartDùng trong bộ luật lớn
ChươngChapterĐánh số La Mã giữ nguyên: Chapter II
MụcSectionMục trong chương
ĐiềuArticleArticle 5
KhoảnClause (một số bản dùng Paragraph)Clause 2, Article 5
ĐiểmPointPoint b, Clause 2, Article 5
Phụ lụcAppendix hoặc AnnexChọn một chữ cho cả văn bản

Thứ tự trích dẫn tiếng Việt đi từ nhỏ đến lớn (điểm, khoản, điều), và nhiều bản dịch giữ đúng thứ tự đó: Point b, Clause 2, Article 5 of Decree No. …. Cách này dễ đối chiếu với bản gốc nên được ưa chuộng trong tài liệu pháp lý song ngữ. Tránh viết kiểu Article 5.2.b nếu bản gốc không viết như vậy, vì người đọc có thể tưởng văn bản Việt Nam có cách đánh số đó.

Clause và Paragraph cùng được dùng cho "khoản". Hợp đồng quốc tế lại hay dùng clause để chỉ một điều khoản hợp đồng, nên trong một tài liệu vừa trích luật vừa trích hợp đồng, có nhóm dịch chọn Paragraph cho khoản của luật để khỏi lẫn. Cách nào cũng được nếu nhất quán và có ghi trong bảng thuật ngữ của dự án.

Các động từ đi kèm văn bản: ban hành, hiệu lực, bãi bỏ

Tên văn bản đúng mà động từ sai thì câu vẫn sai nghĩa pháp lý. Những cặp dưới đây xuất hiện trong gần như mọi điều khoản chuyển tiếp và căn cứ:

  • Ban hành – promulgate (văn bản quy phạm) hoặc issue (văn bản nói chung). Luật được Quốc hội pass/adopt (thông qua), rồi được công bố.
  • Có hiệu lực thi hành – take effect hoặc enter into force kèm ngày: This Decree takes effect from…. Đừng dịch "có hiệu lực" thành is valid; valid nói về giá trị pháp lý của một giấy tờ, không nói về thời điểm áp dụng.
  • Sửa đổi, bổ sung – amend and supplement. Tên văn bản sửa đổi thường dài: Law amending and supplementing a number of articles of….
  • Bãi bỏ – repeal (với luật, văn bản quy phạm) hoặc annul (huỷ bỏ một quyết định cá biệt). Thay thế – replace hoặc supersede.
  • Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành – detailing and guiding the implementation of. Cụm này rất hay gặp trong tên nghị định và thông tư.
  • Căn cứ ở đầu văn bản – Pursuant to hoặc In accordance with; phần "Căn cứ…" nên giữ nguyên cấu trúc danh sách như bản gốc.

Một chi tiết hay sót: "văn bản hợp nhất" là bản gộp các lần sửa đổi để tiện đọc. Tiếng Anh thường gọi consolidated text hoặc consolidated document. Khi dẫn chiếu một văn bản đã sửa nhiều lần, bản dịch nên nói rõ đang dẫn bản gốc hay bản hợp nhất.

Số hiệu, ký hiệu và ngày ban hành: giữ hay dịch?

Số hiệu như 15/2020/NĐ-CP là mã định danh, không phải câu chữ, nên giữ nguyên cấu trúc. Thông lệ là bỏ dấu tiếng Việt và thay Đ bằng D để máy và người đọc nước ngoài gõ lại được: ND-CP, QD-TTg, TT-BTC. Nếu dịch ký hiệu sang dạng tiếng Anh như GD-GOV, người đọc sẽ không tìm được văn bản trong bất kỳ cơ sở dữ liệu nào.

Có bản dịch thêm phần giải thích ký hiệu lần đầu xuất hiện, ví dụ ghi chú rằng "TT-BTC" là thông tư của Bộ Tài chính. Cách này hữu ích cho người đọc lần đầu tiếp xúc với văn bản Việt Nam, nhưng nên để trong chú thích, không chèn vào giữa số hiệu.

Ngày ban hành ghi theo kiểu tiếng Anh mà người nhận quen. Với văn bản đi châu Âu hoặc Anh, dated 31 January 2020 là an toàn; với người đọc Mỹ, dated January 31, 2020. Tránh ghi toàn số như 01/02/2020 vì người Mỹ đọc thành ngày 2 tháng 1. Ngày tháng là chỗ duy nhất trong tên văn bản mà bạn nên chủ động đổi cách viết, vì giữ nguyên dễ gây hiểu sai.

Một ví dụ trọn vẹn, tự đặt để minh hoạ: Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp có thể dịch thành Decree No. 01/2021/ND-CP dated 4 January 2021 of the Government on enterprise registration. Tên đầy đủ, số hiệu nguyên vẹn, ngày rõ ràng, chủ đề theo sau giới từ on như tên luật.

Kiểm một bản dịch có trích văn bản pháp luật: năm việc nên làm

Đếm loại văn bản. Lập danh sách mọi văn bản được nhắc, đánh dấu loại (luật, nghị định, thông tư…) và kiểm tên tiếng Anh tương ứng có thống nhất từ đầu đến cuối không.

Soát số hiệu từng ký tự. Số năm, số thứ tự, ký hiệu cơ quan là chỗ gõ sai nhiều nhất và gây hậu quả lớn nhất, vì một số sai là dẫn sang văn bản khác hẳn.

Kiểm văn bản còn hiệu lực. Bản gốc có thể được soạn khi văn bản còn hiệu lực, nhưng đến lúc dịch đã bị thay thế. Người dịch không sửa nội dung, nhưng nên ghi chú cho khách hàng.

So thứ tự điểm, khoản, điều với bản gốc. Đặt hai bản cạnh nhau và dò từng trích dẫn. Lỗi đảo thứ tự khó thấy khi chỉ đọc bản tiếng Anh.

Ghi nguồn bản dịch tham khảo đã dùng. Nếu tên tiếng Anh của một văn bản lấy từ bản dịch đã lưu hành, ghi lại nguồn để lần sau, hoặc người khác, kiểm lại được. Bản dịch tham khảo không có giá trị pháp lý; khi tranh chấp, bản tiếng Việt được dùng.

Câu hỏi thường gặp

Luật sửa đổi nhiều luật cùng lúc thì dịch tên thế nào?

Tên loại này rất dài vì liệt kê các luật được sửa. Cách thường dùng là Law amending and supplementing a number of articles of the Law on …, the Law on … and the Law on …, giữ đúng thứ tự như bản gốc. Khi nhắc lại nhiều lần trong một tài liệu, có thể đặt tên ngắn ở lần đầu rồi dùng tên ngắn đó.

Bộ luật Lao động nên viết Labour Code hay Labor Code?

Cả hai đều đúng, khác nhau ở chính tả Anh và Mỹ. Nhiều bản dịch tham khảo tại Việt Nam dùng Labour theo chính tả Anh. Chọn theo chính tả chung của cả tài liệu và giữ nhất quán, đừng để Labour ở trang này, Labor ở trang khác.

Có nên viết tắt Decree thành Dec. hay Circular thành Cir. không?

Không nên trong văn bản pháp lý hoặc hồ sơ nộp cơ quan. Viết tắt không thống nhất làm người đọc nghi ngờ đó là loại văn bản khác. Nếu bảng biểu chật chỗ, hãy khai báo chữ viết tắt một lần ở đầu tài liệu rồi mới dùng.

Văn bản hợp nhất có dịch tên giống văn bản gốc không?

Văn bản hợp nhất mang số hiệu riêng do cơ quan hợp nhất cấp. Khi dịch, ghi rõ đó là consolidated text và giữ số hiệu của chính nó; đừng gán số hiệu của văn bản gốc, vì người đọc sẽ không phân biệt được hai bản.

Tên văn bản pháp luật có cần in nghiêng trong bản tiếng Anh không?

Không bắt buộc. Văn bản pháp lý tiếng Anh thường viết tên đạo luật bằng chữ thường, viết hoa chữ cái đầu các từ chính, không in nghiêng. Điều quan trọng là thống nhất cách viết hoa trong toàn bộ tài liệu.

Dịch tên nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh thế nào?

Vẫn dùng Resolution, ghi rõ cơ quan ban hành sau tên: Resolution No. … of the People’s Council of … Province. Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, tên tỉnh trong văn bản cũ có thể khác tên hiện nay; giữ tên đúng như trên văn bản gốc và ghi chú nếu cần.

Bài viết liên quan