DichDung.comDịch Đúng
Chức danh và tên cơ quan

Giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ tiếng Anh: cách viết học hàm, học vị cho đúng

GS là Professor, PGS là Associate Professor, TS là PhD hay Dr.? Cách viết GS.TS, ThS, TSKH, BSCKII sang tiếng Anh và vì sao không quy đổi được một – một.

Macro shot of an academic gown sleeve and a rolled blank diploma tied with ribbon resting on a dark wooden lectern, shallow depth of field, burgundy and gold palette

Cách dịch phổ biến: giáo sư (GS) là Professor, phó giáo sư (PGS) là Associate Professor, tiến sĩ (TS) là PhD (sau tên) hoặc Dr. (trước tên), thạc sĩ (ThS) ghi bằng tên bằng sau tên như MA, MSc, MBA. "GS.TS. Nguyễn Văn A" thường viết "Prof. Nguyen Van A, PhD" hoặc "Prof. Dr. Nguyen Van A".

Nhưng đây là những tương đương gần đúng. Ở Việt Nam, giáo sư và phó giáo sư là chức danh do hội đồng cấp nhà nước công nhận, gắn với một người suốt sự nghiệp. Ở Mỹ, Professor và Associate Professor là cấp bậc trong một trường đại học, gắn với vị trí làm việc. Hai thứ có tên giống nhau mà bản chất khác nhau, nên bản dịch cần cẩn thận khi người đọc là hội đồng xét tuyển hay cơ quan đánh giá bằng cấp.

Bài này phân biệt học hàm và học vị, đưa cách viết trước và sau tên, các trường hợp đặc thù như tiến sĩ khoa học, bác sĩ chuyên khoa, danh hiệu nhà giáo, và lỗi hay gặp trên danh thiếp, bài báo, lý lịch khoa học.

Học hàm và học vị: hai thứ khác nhau, hai chỗ đặt khác nhau

Học vị là bằng cấp đào tạo: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Người có học vị nhận nó qua một chương trình học và bảo vệ, và học vị không mất đi. Học hàm (theo cách gọi quen thuộc) là chức danh khoa học giáo sư, phó giáo sư, được xét công nhận dựa trên thành tích giảng dạy, nghiên cứu. Một người có thể là tiến sĩ mà không phải phó giáo sư; một giáo sư ở Việt Nam thì gần như luôn có học vị tiến sĩ.

Tiếng Anh xử lý hai lớp này ở hai vị trí. Chức danh nghề nghiệp như Professor đặt trước tên (Prof. Nguyen Van A). Bằng cấp đặt sau tên, cách bằng dấu phẩy (Nguyen Van A, PhD). Dr. đặt trước tên là cách gọi người có bằng tiến sĩ, không phải tên bằng.

Từ đó có quy tắc tránh thừa: không dùng Dr. và PhD cùng lúc cho một người ("Dr. Nguyen Van A, PhD" là lặp). Chọn một trong hai: Dr. trong lời chào và văn nói, PhD sau tên trong danh sách tác giả, lý lịch, danh thiếp.

Cách viết "Prof. Dr." ghép trước tên phổ biến ở Đức, Áo và nhiều nước châu Âu, châu Á. Trong văn phong Mỹ và Anh, người ta thường viết "Professor Nguyen Van A" hoặc "Nguyen Van A, PhD, Professor of …". Bản dịch nên theo thói quen của nơi đọc: hồ sơ gửi đối tác Đức có thể dùng Prof. Dr.; bài đăng tạp chí Mỹ thì dùng cấu trúc tên – bằng – chức danh.

Bảng quy đổi gần đúng các học hàm, học vị và danh hiệu

Bảng dưới là cách dịch phổ biến. Cột cuối cho biết mức độ tương đương, vì người đọc như hội đồng tuyển dụng nước ngoài sẽ hiểu chữ tiếng Anh theo hệ thống của họ.

Tiếng ViệtCách dịch thường dùngMức tương đương
Giáo sư (GS)Professor (Prof.)Gần: tên giống, cơ chế xét khác
Phó giáo sư (PGS)Associate Professor (Assoc. Prof.)Gần: ở Mỹ là cấp bậc tại trường
Tiến sĩ (TS)PhD; Doctor of Philosophy; Dr. trước tênTốt
Tiến sĩ khoa học (TSKH)Doctor of Science (DSc)Gần: tương ứng bằng tiến sĩ bậc cao ở một số nước
Thạc sĩ (ThS)Master; ghi tên bằng: MA, MSc, MEng, MBA…Tốt, nhưng phải đúng loại bằng
Cử nhân (CN)Bachelor; BA, BSc, BEng…Tốt
Kỹ sư (KS)Engineer; bằng: BEng hoặc Engineer's degreeTuỳ chương trình
Bác sĩ (BS) – bằngDoctor of Medicine (MD)Gần: hệ đào tạo khác nhau
Bác sĩ chuyên khoa I, II (BSCKI, BSCKII)Specialist Doctor Level I/II; Specialist Level I/IIKhông có tương đương trực tiếp – nên giải thích
Nhà giáo nhân dânPeople's TeacherDanh hiệu, không phải học vị
Nhà giáo ưu túMeritorious TeacherDanh hiệu, không phải học vị

Hai dòng cuối hay bị dịch nhầm thành học vị hoặc bỏ hẳn. Danh hiệu nhà nước nên giữ trong lý lịch, đặt ở mục giải thưởng, danh hiệu (Awards and Honours), không đặt cạnh tên như một tước vị khi viết cho người đọc nước ngoài chưa quen.

Vì sao Associate Professor của Việt Nam và của Mỹ không giống nhau

Ở Mỹ, một giảng viên sau tiến sĩ thường bắt đầu ở cấp Assistant Professor, rồi được thăng lên Associate Professor (thường gắn với biên chế lâu dài – tenure), rồi Full Professor. Đó là các bậc nghề nghiệp tại một trường; chuyển trường thì cấp bậc có thể được thương lượng lại. Chữ "Professor" trong giao tiếp hằng ngày ở Mỹ còn được dùng cho mọi người dạy đại học.

Ở Việt Nam, phó giáo sư và giáo sư được hội đồng giáo sư nhà nước xét công nhận theo tiêu chuẩn chung (bài báo, sách, hướng dẫn nghiên cứu sinh, giờ giảng…), sau đó cơ sở giáo dục bổ nhiệm. Chức danh đi theo người, có ý nghĩa xã hội rộng hơn một cấp bậc nội bộ.

Vì vậy khi dịch lý lịch khoa học cho hồ sơ xin tài trợ hay xin việc ở nước ngoài, một câu giải thích ngắn giúp người đọc hiểu đúng: "Associate Professor (title conferred by the State Council for Professorship of Vietnam)". Tên tiếng Anh của hội đồng nên kiểm theo tên cơ quan đang dùng. Không cần giải thích ở danh thiếp hay chữ ký thư, nơi tương đương gần là đủ.

Chiều ngược lại cũng đáng lưu ý: dịch "Assistant Professor" của Mỹ sang tiếng Việt là "trợ lý giáo sư" là sai nghĩa. Đây là giảng viên chính thức cấp đầu, cách dịch hợp lý hơn là "phó giáo sư trợ lý" (cách gặp trong một số tài liệu) hoặc tốt nhất là "giảng viên (Assistant Professor)" kèm nguyên văn.

Cách viết trên danh thiếp, bài báo và lý lịch khoa học

Cùng một người, ba loại văn bản có ba quy ước khác nhau. Dưới đây là cách viết phổ biến, ví dụ với một người tự đặt là phó giáo sư, tiến sĩ.

  • Danh thiếp: "Assoc. Prof. Tran Thi B, PhD" ở dòng tên, dòng dưới là chức vụ: "Dean, Faculty of Economics". Chức danh khoa học và chức vụ quản lý tách hai dòng, đừng gộp thành một chuỗi dài.
  • Danh sách tác giả bài báo: phần lớn tạp chí quốc tế chỉ ghi tên và nơi công tác, không ghi Prof. hay Dr. Thêm học hàm vào dòng tác giả là sai quy ước và thường bị biên tập xoá.
  • Lý lịch khoa học (CV): mục học vị liệt kê bằng, năm, nơi cấp (PhD in Economics, 2012, …); mục chức danh ghi Associate Professor kèm năm công nhận; mục chức vụ ghi các vị trí quản lý.
  • Chữ ký thư điện tử: tên, học vị viết tắt sau tên, chức danh và đơn vị. Không lặp Dr. và PhD.
  • Thư mời, chương trình hội thảo: theo văn phong ban tổ chức; với hội thảo quốc tế, thường "Prof. Tran Thi B (University of …)" là đủ.

Điểm chung: học vị nằm cạnh tên, chức vụ nằm ở dòng riêng, đơn vị luôn đi kèm. Bản dịch tuân theo ba điều này hiếm khi bị người đọc nước ngoài hỏi lại.

Lỗi hay gặp khi dịch học hàm, học vị

"Ass. Prof." hoặc "As. Prof.". Viết tắt chuẩn là Assoc. Prof.; hai cách kia gây hiểu lầm hoặc kém trang trọng. Nếu không chắc, viết đầy đủ Associate Professor.

"Master Nguyen Van C". Tiếng Anh không dùng "Master" làm danh xưng trước tên cho người có bằng thạc sĩ. Ghi bằng sau tên (Nguyen Van C, MSc) hoặc bỏ hẳn trong giao tiếp thường.

"Doctor" cho mọi tiến sĩ trong văn bản y tế. Trong bệnh viện, người đọc hiểu doctor là bác sĩ. Một tiến sĩ hoá học làm việc ở bệnh viện nên được ghi rõ là PhD để khỏi nhầm với người hành nghề khám chữa bệnh.

Quy đổi BSCKII thành "PhD". Bác sĩ chuyên khoa II là bậc đào tạo chuyên khoa sau đại học trong ngành y Việt Nam, khác bằng tiến sĩ. Dịch thành PhD là sai sự thật về bằng cấp. Giữ "Specialist Doctor Level II" kèm giải thích ngắn.

"Professor" cho giảng viên chưa được công nhận. Chữ Professor trong văn bản tiếng Anh gửi ra nước ngoài sẽ được hiểu là có chức danh. Giảng viên nên ghi Lecturer hoặc Senior Lecturer theo ngạch, không mượn chữ Professor dù trong tiếng Việt thường gọi thân mật là "thầy giáo sư".

Khi người đọc là cơ quan đánh giá bằng cấp

Hồ sơ du học, xin việc, xin thường trú ở nhiều nước có bước đánh giá bằng cấp nước ngoài. Với nhóm người đọc này, bản dịch phải ưu tiên chính xác về tên bằng hơn là "nghe quen". Tên bằng nên dịch sát như in trên văn bằng, ví dụ "Bằng Tiến sĩ" thành "Doctoral Degree" hoặc "Doctor of Philosophy" tuỳ cách trường cấp đã ghi trên phần tiếng Anh của văn bằng, nếu có.

Nhiều văn bằng Việt Nam hiện có phần song ngữ do chính cơ sở đào tạo in. Khi đã có tên tiếng Anh trên văn bằng, dùng đúng tên đó trong mọi giấy tờ khác của hồ sơ, kể cả khi bạn thấy cách dịch khác hay hơn. Sự khớp giữa các giấy tờ quan trọng hơn sự hay của một chữ.

Việc đánh giá tương đương do cơ quan có thẩm quyền của nước nhận quyết định, không do người dịch. Bản dịch không được tự ghi "tương đương PhD của Mỹ" hay "equivalent to a master's degree". Nếu cần giải thích chương trình (thời gian học, khối lượng tín chỉ), đặt ở ghi chú người dịch hoặc ở văn bản riêng do trường cấp.

Hồ sơ loại này thường cần dịch có công chứng; khi đó người cần bản dịch hồ sơ học thuật có thể tìm đơn vị như Dịch Việt, nhưng bảng chức danh, tên bằng thống nhất vẫn nên do chính người nộp chuẩn bị trước.

Chiều ngược: chức danh học thuật nước ngoài sang tiếng Việt

Professor Emeritus. Giáo sư danh dự, dành cho giáo sư đã nghỉ hưu vẫn giữ danh nghĩa với trường. Không dịch "giáo sư hưu trí" – nghe như mô tả tình trạng, không phải danh hiệu.

Visiting Professor, Adjunct Professor. Visiting thường dịch giáo sư thỉnh giảng hoặc giáo sư khách mời; Adjunct là giảng viên kiêm nhiệm, làm việc bán thời gian, không thuộc biên chế. Hai vai trò khác nhau, đừng gộp chung là "thỉnh giảng".

Reader (Anh). Cấp bậc giữa Senior Lecturer và Professor ở hệ thống Anh cũ, thường dịch giảng viên cao cấp hoặc giữ nguyên Reader kèm giải thích. Dịch "người đọc" là lỗi có thật trong bản dịch máy.

Lecturer (Anh, Úc) và Lecturer (Mỹ). Ở Anh, Úc, Lecturer là ngạch giảng viên chính thức, tương đương bậc đầu sau tiến sĩ. Ở Mỹ, Lecturer thường là giảng viên chuyên dạy, không theo ngạch tenure. Cùng là "giảng viên" trong tiếng Việt, ý nghĩa nghề nghiệp khác nhau.

Chair Professor, Named Professor. Giáo sư mang tên một quỹ hoặc nhà tài trợ (ví dụ "X Professor of Economics"), thường là danh dự cao. Có thể dịch giáo sư chủ nhiệm hoặc giữ nguyên tên kèm giải thích.

Câu hỏi thường gặp

GS.TS viết tiếng Anh thế nào cho gọn?

Phổ biến nhất là Prof. Nguyen Van A, PhD hoặc Prof. Dr. Nguyen Van A. Cách đầu hợp văn phong Anh – Mỹ, cách sau hợp văn phong châu Âu. Tránh viết Prof. Dr. Nguyen Van A, PhD vì lặp học vị hai lần.

Tiến sĩ ghi Dr. hay PhD trên danh thiếp?

Phần lớn dùng PhD sau tên vì nó cho biết loại bằng và trông gọn trên danh thiếp. Dr. trước tên hợp với lời chào, thư mời và văn nói. Chọn một, không ghi cả hai cho cùng một người.

Thạc sĩ có nên ghi MSc trên danh thiếp không?

Tuỳ ngành và thói quen thị trường. Ở một số lĩnh vực như tư vấn, tài chính, ghi MBA hay MSc sau tên khá phổ biến. Nếu ghi, dùng đúng loại bằng thực tế, không dùng chung chung Master. Nhiều người chọn không ghi để danh thiếp gọn.

Giảng viên chính, giảng viên cao cấp dịch thế nào?

Cách dùng thường gặp là Lecturer cho giảng viên, Senior Lecturer cho giảng viên chính, và Principal Lecturer hoặc Senior Lecturer cho giảng viên cao cấp. Không có quy đổi chính thức thống nhất; nên theo cách trường đã dùng trong văn bản tiếng Anh của mình.

Nghiên cứu sinh và postdoc dịch thế nào?

Nghiên cứu sinh là PhD student hoặc PhD candidate; candidate thường dùng khi đã qua kỳ đánh giá đủ điều kiện làm luận án. Postdoc là nghiên cứu viên sau tiến sĩ, tiếng Anh đầy đủ là postdoctoral researcher hoặc postdoctoral fellow.

Người được phong giáo sư ở nước ngoài thì ghi ở Việt Nam thế nào?

Ghi đúng chức danh nước ngoài kèm tên trường, ví dụ Associate Professor tại một trường cụ thể, và hiểu rằng đó là cấp bậc tại trường đó. Việc có được công nhận chức danh tương ứng ở Việt Nam hay không là thủ tục riêng theo quy định hiện hành.

Bài viết liên quan