Tên người Nhật trong tiếng Việt hiện được viết bằng chữ Latinh theo hệ Hepburn, không đọc Hán Việt: Murakami Haruki, Kawabata Yasunari, Miyazaki Hayao. Về thứ tự, tiếng Nhật đặt họ trước tên sau; trong tiếng Anh, nhiều tài liệu đảo thành tên trước họ sau, nhưng từ năm 2020 các văn bản tiếng Anh của chính phủ Nhật chuyển sang ghi họ trước. Bản dịch tiếng Việt nên giữ họ trước, đúng với trật tự gốc và cũng là trật tự quen thuộc của tiếng Việt.
Khác với tên Trung Quốc, chữ Hán trong tên Nhật có nhiều cách đọc, và cách đọc Hán – Nhật không trùng với âm Hán Việt. Vì vậy lối Hán Việt, từng dùng đầu thế kỷ XX, nay chỉ còn trong sách cũ. Bài này đi qua thứ tự tên, các chi tiết của Romaji, kính ngữ, và cách viết tên người Việt bằng Katakana.
Hán Việt từng dùng cho tên Nhật, rồi bị bỏ
Đầu thế kỷ XX, khi trí thức Việt đọc tài liệu về Nhật qua sách báo chữ Hán, tên người và địa danh Nhật được đọc theo âm Hán Việt của chữ Hán: Toyotomi Hideyoshi là Phong Thần Tú Cát, Itō Hirobumi là Y Đằng Bác Văn, Hiroshima là Quảng Đảo, Nagasaki là Trường Kỳ. Một số bản dịch văn học giữa thế kỷ cũng gọi Kawabata Yasunari là Xuyên Đoan Khang Thành.
Lối này bị bỏ vì một lý do ngôn ngữ cơ bản: chữ Hán trong tiếng Nhật đọc theo nhiều cách, có âm On (gốc Hán) và âm Kun (thuần Nhật), và tên người thường đọc theo âm Kun hoặc theo cách riêng của gia đình. Tên Hán Việt vì thế không gợi chút gì cách người Nhật gọi nhau. Người Nhật nghe "Phong Thần Tú Cát" không nhận ra Toyotomi Hideyoshi; người Việt đọc tên Hán Việt rồi tra tài liệu quốc tế cũng không tìm thấy.
Ngày nay, sách dịch, báo chí, tài liệu học thuật tiếng Việt dùng Romaji cho tên Nhật đương đại lẫn lịch sử. Tên Hán Việt chỉ nên giữ khi trích nguyên văn tài liệu cũ, hoặc khi bàn về lịch sử tiếp nhận văn hoá Nhật ở Việt Nam. Với địa danh, cũng vậy: Tokyo, Kyoto, Osaka, Hiroshima được viết theo Romaji.
Họ trước hay tên trước: chuyện đổi chiều
Trong tiếng Nhật, họ luôn đứng trước. Murakami là họ, Haruki là tên. Người Nhật gọi nhau bằng họ kèm kính ngữ trong phần lớn quan hệ ngoài gia đình và bạn thân: Murakami-san.
Tiếng Anh từng quen đảo ngược. Từ cuối thế kỷ XIX, khi Nhật mở cửa với phương Tây, thói quen viết tên Nhật theo trật tự tên trước họ sau trong tiếng Anh được hình thành, và kéo dài hơn một thế kỷ. Vì thế nhiều sách, bài báo tiếng Anh viết Haruki Murakami, Hayao Miyazaki.
Chính phủ Nhật đã đổi khuyến nghị. Từ đầu năm 2020, văn bản tiếng Anh của các cơ quan chính phủ Nhật ghi họ trước, thường viết hoa toàn bộ họ để tránh nhầm: MURAKAMI Haruki. Báo chí quốc tế áp dụng không đồng đều; nhiều nơi vẫn giữ trật tự cũ cho người đã nổi tiếng với dạng đó.
Bản dịch tiếng Việt nên làm gì. Giữ họ trước tên sau, vì tiếng Việt cũng thế và vì đó là trật tự gốc. Khi dịch từ một tài liệu tiếng Anh đã đảo tên, cần nhận ra đâu là họ rồi trả về trật tự Nhật. Với tác giả được xuất bản ở Việt Nam dưới một dạng tên cố định, kiểm cách viết trên bìa sách đã in để người đọc tìm được.
Romaji: các hệ và những chi tiết hay sai
Romaji là cách viết tiếng Nhật bằng chữ Latinh. Có nhiều hệ; trong bản dịch, chỉ cần nắm hệ Hepburn và vài biến thể thường gặp.
| Vấn đề | Hepburn chuẩn | Biến thể hay gặp | Gợi ý cho bản dịch |
|---|---|---|---|
| Nguyên âm dài | Tōkyō, Ōsaka (gạch ngang trên) | Tokyo, Toukyou, Tohkyoh | Địa danh quen: Tokyo, Osaka. Tên người: theo dạng người đó dùng |
| Âm "o" dài trong họ | Ōno | Ono, Ohno, Oono | Hộ chiếu Nhật cho phép dạng Oh; theo giấy tờ của chính chủ |
| Âm "shi, chi, tsu" | shi, chi, tsu | si, ti, tu (hệ Kunrei) | Dùng Hepburn: Shimizu, Tsuchiya |
| Âm "n" trước b, m, p | n (Shinbashi) hoặc m (Shimbashi) tuỳ phiên bản | Gunma, Gumma | Theo dạng phổ biến của địa danh, giữ nhất quán |
| Tên có chữ "ji / zi" | ji | zi | Hepburn: Fujimoto, không Huzimoto |
Hệ Kunrei là hệ được chính phủ Nhật ban hành từ giữa thế kỷ XX và có trong một số sách giáo khoa, nhưng trong hộ chiếu, biển chỉ đường, đường sắt và phần lớn ấn phẩm quốc tế, Hepburn chiếm ưu thế. Với tên người, dạng đúng là dạng người đó dùng trong hộ chiếu hoặc ấn phẩm của chính họ; người dịch không "chuẩn hoá" Ohno thành Ōno.
Kanji trong tên Nhật: vì sao không thể đọc chắc từ mặt chữ
Một tên viết bằng Kanji có thể có nhiều cách đọc, và cách đọc trong tên người còn tự do hơn trong từ vựng thường. Chữ 和 trong tên có thể đọc là Kazu, Wa, Yasu, Ai…; tên 翔 có thể là Shō, Kakeru, Tsubasa. Người Nhật cũng gặp khó với tên lạ, nên danh thiếp, danh sách, hồ sơ thường có thêm Furigana, là chữ Kana nhỏ ghi cách đọc. Nhật Bản đã sửa luật hộ tịch để ghi thêm cách đọc tên vào sổ, một phần vì tình trạng tên có cách đọc rất khó đoán ngày càng nhiều.
Hệ quả cho người dịch: đừng tự đọc tên từ Kanji. Khi chỉ có Kanji, tìm cách đọc trong chính tài liệu (Furigana, chữ ký Romaji, địa chỉ email), trong hồ sơ công khai của người đó, hoặc hỏi lại bên gửi. Nếu buộc phải đoán, đánh dấu rõ trong ghi chú gửi khách để họ xác nhận, thay vì để một tên sai đi vào hợp đồng.
Với tên các nhân vật lịch sử, tác giả, nghệ sĩ nổi tiếng, cách đọc đã được ghi trong từ điển bách khoa. Nhưng cũng có trường hợp một người được biết với cách đọc khác cách đọc khai sinh, nhất là bút danh. Bản dịch theo cách đọc được dùng rộng rãi trong ấn phẩm của chính người đó.
Trong thực tế công việc, cách nhanh nhất để có cách đọc đúng là xin bên đối tác Nhật một danh sách người tham dự có cả Kanji và Romaji. Các công ty Nhật thường có sẵn danh sách này cho khách nước ngoài. Có danh sách ấy, bản dịch biên bản, thư mời, bảng tên hội nghị đều khớp nhau, và không ai phải đoán cách đọc của một cái tên trên danh thiếp.
Kính ngữ đi kèm tên: giữ, dịch hay bỏ
Kính ngữ là phần gắn sau tên để thể hiện quan hệ. Cách xử lý phụ thuộc loại văn bản.
| Kính ngữ | Nghĩa và sắc thái | Văn bản thông tin, thương mại | Văn học, phụ đề |
|---|---|---|---|
| -san | Lịch sự chung, dùng cho hầu hết mọi người | Dịch thành "ông, bà, anh, chị" hoặc bỏ | Có thể giữ "-san" để giữ không khí |
| -sama | Rất trang trọng, cho khách hàng, người bề trên | "Quý ông, quý bà", hoặc bỏ khi đã có danh xưng | Giữ nếu sắc thái quan trọng với cảnh |
| -sensei | Thầy, bác sĩ, luật sư, tác giả… | "Thầy, cô, bác sĩ" tuỳ nghề | Thường giữ "sensei" hoặc dịch "thầy" |
| -kun | Thân mật, thường cho nam trẻ hoặc cấp dưới | Bỏ | Giữ hoặc dịch bằng cách xưng hô thân mật |
| -chan | Thân mật, cho trẻ nhỏ, người rất thân | Bỏ | Thường giữ |
Lỗi hay gặp trong thư thương mại dịch từ tiếng Nhật là để nguyên "Tanaka-sama" trong bản tiếng Việt, khiến văn bản nửa Nhật nửa Việt. Ngược lại, khi dịch Việt sang Nhật, gọi đối tác Nhật bằng tên riêng không kính ngữ là thiếu lịch sự. Một bản dịch tốt chọn danh xưng tiếng Việt tương đương và giữ đều cho cả văn bản.
Nhận ra họ và tên Nhật trong tài liệu tiếng Anh
Họ Nhật phổ biến là chỗ dựa đầu tiên. Một số họ rất thường gặp như Sato, Suzuki, Takahashi, Tanaka, Watanabe, Ito, Yamamoto, Nakamura, Kobayashi. Khi tài liệu tiếng Anh ghi "Hiroshi Tanaka", có thể khá chắc Tanaka là họ. Phần lớn họ Nhật mang yếu tố địa hình như yama (núi), kawa hoặc gawa (sông), ta hoặc da (ruộng), mura (làng), moto (gốc), shita (dưới).
Tên riêng có những đuôi đặc trưng. Tên nữ truyền thống thường tận cùng bằng -ko, -mi, -e, -ka (Yoko, Ayumi, Haruka); tên nam hay có -ro, -suke, -hiko, -o, -ki, -ya (Ichiro, Daisuke, Kazuhiko, Hideki). Đây chỉ là xu hướng, không phải quy tắc; tên trung tính và tên hiện đại ngày càng nhiều, và không nên dựa vào đuôi tên để đoán giới khi dịch danh xưng.
Thứ tự trong cùng một tài liệu có thể không thống nhất. Danh sách tác giả bài báo khoa học thường ghi tên trước họ sau, còn phụ lục, bảng biểu do người Nhật soạn có thể ghi họ trước. Trước khi dịch danh sách, xem chữ ký, email, chữ viết hoa hoặc dấu phẩy (Tanaka, Hiroshi) để biết người soạn dùng quy ước nào.
Tên công ty và địa danh cũng theo Romaji. Toyota, Hitachi, Mitsubishi là tên Latinh của các tập đoàn, không đọc Hán Việt. Địa danh có hậu tố hành chính: -to (Tokyo-to), -fu (Osaka-fu), -ken (Aichi-ken), -shi (Nagoya-shi). Văn bản tiếng Việt viết "tỉnh Aichi", "thành phố Nagoya", bỏ hậu tố; địa chỉ để gửi thư giữ nguyên dạng trong tài liệu Nhật.
Tên người Việt bằng Katakana
Tiếng Nhật viết tên nước ngoài bằng Katakana, theo âm. Tên người Việt vì thế có dạng Katakana: họ Nguyễn thường viết グエン (Guen), Trần là チャン (Chan), Lê là レ (Re), Phạm là ファム (Famu). Vì tiếng Nhật không có thanh điệu và có ít âm cuối, nhiều tên Việt khác nhau ra cùng một dạng Katakana, và cách viết dao động giữa các nơi.
Có hai hướng phiên. Hướng thứ nhất theo cách đọc tiếng Việt, gần với âm thật, ví dụ Nguyễn thành グエン. Hướng thứ hai theo mặt chữ Latinh không dấu, ví dụ Nguyen đọc như tiếng Anh, ra những dạng xa âm thật. Hướng thứ nhất được ưa hơn trong văn bản cẩn thận, nhưng điều quan trọng nhất là một người dùng một dạng duy nhất trên mọi giấy tờ: thẻ lưu trú, hợp đồng lao động, hồ sơ trường, tài khoản ngân hàng. Sai một ký tự là hồ sơ không khớp.
Người Việt có tên Hán Việt đôi khi được hỏi có muốn viết bằng Kanji không. Về nguyên tắc có thể, vì nhiều tên Việt có gốc chữ Hán, nhưng Kanji của tên Việt thường không phải dạng pháp lý trên giấy tờ Nhật, và việc chọn chữ cần chính người mang tên quyết định. Tên trên hộ chiếu vẫn là căn cứ. Với hồ sơ du học, lao động cụ thể, mẫu và quy định của nơi nhận là thứ phải theo trước tiên.
Câu hỏi thường gặp
Viết Tokyo hay Tōkyō trong bản dịch tiếng Việt?
Văn bản phổ thông viết Tokyo, Osaka, Kyoto, không dấu gạch ngang, vì đây là dạng đã quen trong tiếng Việt và tiếng Anh. Tài liệu học thuật về ngôn ngữ, lịch sử Nhật có thể dùng dấu gạch ngang để thể hiện nguyên âm dài. Chọn một quy ước cho cả văn bản.
Có nên viết hoa toàn bộ họ người Nhật như MURAKAMI Haruki không?
Cách viết này giúp người đọc nước ngoài nhận ra họ, và được dùng trong văn bản chính phủ Nhật, hội nghị quốc tế. Trong văn bản tiếng Việt thông thường không cần, vì người đọc Việt đã quen trật tự họ trước. Danh sách đại biểu, hồ sơ song ngữ có thể dùng để tránh nhầm.
Tên người Nhật đã kết hôn có đổi họ không?
Theo luật hiện hành của Nhật, vợ chồng phải dùng chung một họ, và phần lớn người vợ đổi sang họ chồng. Vì vậy một phụ nữ Nhật có thể xuất hiện với hai họ khác nhau trong tài liệu trước và sau hôn nhân. Nhiều người vẫn dùng họ cũ trong công việc, nên người dịch phải theo dạng xuất hiện trong văn bản.
Tên tác giả Nhật in trên sách tiếng Việt viết họ trước hay tên trước?
Hiện có cả hai cách, tuỳ nhà xuất bản và tuỳ bản dịch qua tiếng Anh hay dịch thẳng từ tiếng Nhật. Khi trích dẫn hoặc viết bài về sách đã in, dùng đúng cách in trên bìa để người đọc tìm được. Khi viết mới, giữ họ trước là lựa chọn nhất quán với tiếng Nhật.
Kính ngữ -san có cần dịch trong email công việc không?
Trong email tiếng Việt gửi người Việt, nên chuyển thành danh xưng tiếng Việt: anh Tanaka, chị Suzuki. Trong email tiếng Anh gửi người Nhật, nhiều công ty quốc tế vẫn dùng Tanaka-san như một cách lịch sự đã quen. Tránh trộn kiểu Mr. Tanaka-san vì thành hai lớp kính ngữ.
Tên người Nhật có tên đệm như tên Việt không?
Thông thường không. Tên Nhật gồm họ và tên riêng, không có tên đệm. Khi gặp tên Nhật trong tài liệu tiếng Anh có ba thành phần, phần thêm thường là tên tiếng Anh tự đặt hoặc tên thánh của người mang tên, không phải tên đệm theo nghĩa tiếng Việt.