DichDung.comDịch Đúng
Tên riêng và địa danh

Địa danh nước ngoài trong tiếng Việt: Luân Đôn hay London, La Mã hay Rome

Vì sao vẫn nói La Mã, Bắc Kinh nhưng ít ai viết Ba Lê? Cách chọn tên thành phố, sông núi nước ngoài trong tiếng Việt, địa danh đã đổi tên và lỗi lặp nghĩa.

Silhouette of a traveller standing at a large airport window watching a plane take off at sunset, long shadows on the floor, warm orange and deep indigo palette

Địa danh nước ngoài trong tiếng Việt có cùng ba lớp như tên nước: Hán Việt (Luân Đôn, Bắc Kinh, La Mã, Mạc Tư Khoa), phiên âm (Mát-xcơ-va, Pa-ri, Oa-sinh-tơn) và tên gốc (London, Paris, Washington). Nguyên tắc thực dụng hiện nay: địa danh nào đã có tên Hán Việt còn sống trong tiếng Việt, như Bắc Kinh, Thượng Hải, La Mã, Viên Chăn, thì dùng tên đó; còn lại thì dùng tên gốc hoặc dạng Latinh phổ biến, và chỉ phiên âm khi văn bản có quy định hoặc dành cho người đọc không quen chữ nước ngoài.

Phần khó hơn nằm ở các địa danh đã đổi tên, địa danh có dấu phụ, và các tên mang sẵn danh từ chung khiến bản dịch lặp nghĩa. Bài này giúp bạn chọn tên đúng và giữ nhất quán, cho cả người dịch lẫn người đọc muốn kiểm một bản dịch.

Ngoại danh và nội danh: khái niệm giúp suy nghĩ rõ hơn

Giới nghiên cứu địa danh phân biệt hai loại tên. Nội danh (endonym) là tên mà người dân địa phương dùng bằng ngôn ngữ của họ: München, Firenze, Moskva. Ngoại danh (exonym) là tên mà một ngôn ngữ khác dùng cho địa danh ấy: Munich trong tiếng Anh, Florence trong tiếng Anh, Mạc Tư Khoa hay Mát-xcơ-va trong tiếng Việt. Mọi ngôn ngữ đều có ngoại danh cho những nơi quan trọng với mình; tiếng Anh gọi Việt Nam là Vietnam, không phải Việt Nam có dấu.

Nhóm chuyên gia về địa danh của Liên Hợp Quốc từ lâu đã khuyến nghị các nước hạn chế dùng ngoại danh trong bối cảnh quốc tế, ưu tiên nội danh viết bằng chữ Latinh. Lý do: một địa danh có quá nhiều tên ở các ngôn ngữ khác nhau gây nhầm lẫn trong bản đồ, hàng hải, hàng không, cứu hộ. Khuyến nghị này giải thích vì sao xu hướng chung, kể cả trong tiếng Việt, là chuyển dần sang tên gốc.

Nhưng ngoại danh lâu đời không biến mất, và cũng không cần biến mất. Tiếng Anh vẫn nói Rome, Vienna, Prague dù nội danh là Roma, Wien, Praha. Tiếng Việt vẫn nói La Mã, Bắc Kinh. Người dịch tốt phân biệt ngoại danh còn sống, tức vẫn được dùng tự nhiên trong văn bản hiện nay, với ngoại danh đã chết, chỉ còn trong sách cũ.

Địa danh Hán Việt: cái còn sống và cái đã lùi vào lịch sử

Bảng dưới phân loại theo mức độ dùng trong báo chí, sách tiếng Việt hiện nay. Đây là quan sát thông lệ, không phải quy định.

Tên gốc hoặc dạng LatinhHán ViệtTình trạng hiện nay
BeijingBắc KinhDùng phổ biến, là dạng chuẩn trong tiếng Việt
ShanghaiThượng HảiDùng phổ biến
Roma (Rome)La MãCòn dùng, nhất là khi nói về lịch sử; báo chí cũng dùng Rome, Roma
VientianeViên ChănDùng phổ biến
Phnom PenhNam VangChủ yếu trong sách cũ; nay thường viết Phnom Penh
LondonLuân ĐônCòn gặp, nhưng London phổ biến hơn trong văn bản mới
ParisBa LêGần như chỉ còn trong văn bản cũ
Moskva (Moscow)Mạc Tư KhoaVăn bản cũ; nay dùng Moskva hoặc Mát-xcơ-va
WashingtonHoa Thịnh ĐốnVăn bản cũ
New YorkNữu ƯớcVăn bản cũ
SingaporeTân Gia BaVăn bản cũ
BangkokVọng CácVăn bản cũ

Thủ đô Hàn Quốc là ví dụ thú vị về chiều ngược lại: tên Hán cũ của thành phố được đọc ra Hán Thành trong tiếng Việt. Năm 2005, chính quyền thành phố công bố tên viết bằng chữ Hán mới cho Seoul để gần với âm thật, và tiếng Việt từ lâu đã chuyển sang Seoul hoặc phiên âm Xơ-un. Hán Thành chỉ còn trong tài liệu lịch sử.

Địa danh đã đổi tên: dùng tên nào khi dịch

Nhiều thành phố đã đổi tên chính thức trong vài thập niên gần đây: Bombay thành Mumbai (1995), Madras thành Chennai (1996), Calcutta thành Kolkata (2001), Rangoon thành Yangon (1989). Có trường hợp đổi tên đã xảy ra rất lâu nhưng ngoại danh cũ còn sống dai trong tiếng Anh: Constantinople chính thức là İstanbul từ năm 1930. Cũng có trường hợp không phải đổi tên mà đổi hệ La-tinh hoá: Peking thành Beijing, Canton thành Guangzhou, theo pinyin.

Nguyên tắc cho bản dịch giống với tên nước: văn bản mô tả hiện tại dùng tên hiện hành; văn bản lịch sử giữ tên đúng thời điểm, có thể kèm tên hiện hành ở lần đầu. Một bài về ngành dệt Ấn Độ thế kỷ XIX nói "Bombay" là đúng bối cảnh; một hợp đồng vận chuyển năm 2026 ghi "Bombay" là sai. Với tên cảng, sân bay, công ty, tên có thể giữ dạng cũ nếu đó là tên riêng đăng ký, ví dụ một doanh nghiệp còn mang chữ "Bombay" trong tên.

Đổi tên địa danh đôi khi gắn với các vấn đề chính trị, lịch sử nhạy cảm. Người dịch giữ vai trò trung lập: dịch đúng tên văn bản gốc dùng, và khi bản dịch phục vụ một tổ chức, theo danh mục tên mà tổ chức đó quy định. Không tự thay tên để thể hiện quan điểm, cũng không tự thêm chú thích mang tính bình luận.

Với người đọc một bản dịch, dấu hiệu đáng chú ý là một văn bản mới dùng tên cũ mà không có lý do, ví dụ tài liệu xúc tiến thương mại năm nay vẫn ghi Bombay hay Rangoon. Đó thường là dấu hiệu bản dịch được chép lại từ tài liệu cũ hoặc từ một bộ thuật ngữ đã lâu không cập nhật, và các thông tin khác trong tài liệu ấy cũng nên được kiểm lại.

Danh từ chung trong địa danh: bẫy lặp nghĩa

Nhiều địa danh đã chứa sẵn chữ "sông", "núi", "hồ", "sa mạc" trong ngôn ngữ gốc. Sahara trong tiếng Ả Rập vốn có nghĩa là sa mạc; Rio Grande là "sông lớn" trong tiếng Tây Ban Nha; Fujiyama hay Fuji-san đã có chữ "núi". Khi dịch, nói "sa mạc Sahara", "sông Rio Grande", "núi Phú Sĩ" là cách tiếng Việt và tiếng Anh đều chấp nhận, vì người đọc coi phần gốc là tên riêng. Đây là lặp nghĩa về từ nguyên, không phải lỗi dịch.

Lặp nghĩa thật sự xảy ra khi chính văn bản dịch lặp danh từ chung của nó. Ví dụ "Hồ Lake Baikal", "Mount núi Everest", "Sông Mekong River". Lỗi này hay gặp khi người dịch chép nguyên tên tiếng Anh rồi thêm danh từ tiếng Việt. Cách đúng: "hồ Baikal", "đỉnh Everest", "sông Mê Kông" (hoặc "sông Mekong").

Danh từ chung đặt trước hay sau tuỳ ngôn ngữ. Tiếng Việt đặt trước (sông Hằng, núi Phú Sĩ), tiếng Anh có khi trước (Mount Everest, Lake Victoria), có khi sau (Thames River, Victoria Falls). Dịch Việt sang Anh, kiểm cách viết đã thành thông lệ cho từng địa danh lớn thay vì áp một khuôn.

Có địa danh mà danh từ chung là một phần của tên riêng. Thung lũng Silicon (Silicon Valley), Biển Chết (Dead Sea), Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope). Những tên này tiếng Việt thường dịch nghĩa vì đã quen; nếu dịch tên ít quen, giữ tên gốc kèm danh từ tiếng Việt.

Dấu phụ và cách viết địa danh trong chữ Latinh

Nhiều địa danh châu Âu và Mỹ Latinh có dấu phụ: São Paulo, Zürich, Kraków, Reykjavík, Bogotá, Malmö. Trong bản dịch tiếng Việt, nên giữ dấu phụ theo nội danh vì tiếng Việt hiển thị được, và đó là cách viết đúng ở chính nước sở tại. Ngoại lệ hợp lý là khi địa danh đã có ngoại danh tiếng Anh không dấu rất phổ biến và văn bản dịch từ tiếng Anh dùng dạng đó, như Zurich, Krakow; khi đó chọn một dạng và giữ nhất quán.

Địa danh ở các nước dùng chữ khác, như Nga, Hy Lạp, Ả Rập, Thái, Ấn Độ, luôn đi qua một bước chuyển tự. Cùng một thành phố có thể viết Moskva hoặc Moscow, Athina hoặc Athens, Chiang Mai hoặc Chiengmai. Bản dịch nên dùng dạng phổ biến nhất trong các nguồn quốc tế uy tín hiện nay, thường cũng là dạng trên bản đồ và vé máy bay. Với tài liệu kỹ thuật, logistics, du lịch, dạng trên chứng từ là căn cứ, vì người dùng bản dịch phải đối chiếu được.

Một chi tiết nhỏ thường lọt: tên địa danh có mạo từ như The Hague (Den Haag), Le Havre, La Paz, Los Angeles. Mạo từ là một phần của tên, viết hoa theo quy tắc của ngôn ngữ gốc. Tiếng Việt thường gọi The Hague là La Hay, một tên đã quen trong văn bản ngoại giao và pháp lý quốc tế.

Một số thủ đô và thành phố lớn: dạng phiên âm và dạng gốc

Bảng ghi dạng phiên âm còn gặp trong văn bản hành chính, sách giáo khoa và báo chí lâu năm, cạnh dạng gốc phổ biến trong văn bản mới. Người dịch chọn một cột theo quy định của nơi nhận, rồi giữ nhất quán.

Dạng gốc hoặc Latinh phổ biếnDạng phiên âm còn gặpGhi chú
TokyoTô-ky-ôVăn bản mới gần như đều viết Tokyo
SeoulXơ-unHán Thành chỉ còn trong tài liệu lịch sử
BangkokBăng CốcBăng Cốc vẫn rất phổ biến trong báo chí
JakartaGia-các-taCả hai dạng đều gặp
Kuala LumpurCu-a-la Lăm-pơVăn bản mới thường viết Kuala Lumpur
BerlinBéc-linDạng gốc phổ biến
Wien (Vienna)ViênViên là dạng quen dùng trong tiếng Việt
Praha (Prague)Pra-haTiếng Việt quen dạng Praha theo tiếng Séc
Warszawa (Warsaw)Vác-sa-vaVăn bản mới hay viết Warsaw hoặc Warszawa
Athina (Athens)A-tenCả hai dạng đều gặp

Hai dòng Viên và Praha cho thấy tiếng Việt không nhất thiết đi qua tiếng Anh: Viên gần với cách gọi trong tiếng Pháp và tiếng Đức, Praha là nội danh tiếng Séc. Khi dịch từ tiếng Anh, người dịch hay chép thẳng Vienna, Prague vào bản tiếng Việt; với hai thành phố này, dạng quen dùng trong tiếng Việt lại là Viên và Praha.

Năm câu hỏi để chọn tên một địa danh nước ngoài

Khi gặp một địa danh trong bản dịch mà không chắc viết thế nào, trả lời lần lượt năm câu dưới đây.

  1. Nơi nhận có quy định không? Cơ quan nhà nước, nhà xuất bản, tạp chí có thể có danh mục tên. Nếu có, theo danh mục.
  2. Địa danh có tên Hán Việt còn sống không? Bắc Kinh, Thượng Hải, La Mã, Viên Chăn: dùng. Ba Lê, Nữu Ước: không dùng trong lời người dịch.
  3. Văn bản mô tả thời điểm nào? Hiện tại thì tên hiện hành; lịch sử thì tên thời đó, kèm tên hiện hành ở lần đầu nếu cần.
  4. Người dùng bản dịch có phải đối chiếu với chứng từ, bản đồ, vé không? Nếu có, ưu tiên dạng trên chứng từ.
  5. Đã có dạng này trong bảng thuật ngữ của dự án chưa? Nếu chưa, ghi vào; mọi lần sau dùng đúng dạng đó.

Với người đọc muốn kiểm một bản dịch, năm câu này cũng là năm điểm để soát: tên Hán Việt chết lẫn vào văn bản hiện đại, tên đã đổi dùng sai thời điểm, và nhất là cùng một địa danh viết hai kiểu trong một văn bản là dấu hiệu bản dịch chưa được biên tập.

Câu hỏi thường gặp

Viết Mát-xcơ-va, Moskva hay Moscow mới đúng trong tiếng Việt?

Cả ba đều gặp. Mát-xcơ-va là dạng phiên âm quen thuộc trong văn bản hành chính và báo chí lâu nay; Moskva là chuyển tự trực tiếp từ tiếng Nga; Moscow là dạng tiếng Anh. Văn bản tiếng Việt nên chọn một trong hai dạng đầu và giữ nhất quán; tránh dùng dạng tiếng Anh khi đã có dạng tiếng Việt quen dùng.

Tên sông Mê Kông viết có gạch nối hay viết liền Mekong?

Tiếng Việt quen viết Mê Kông hoặc Mê-kông, và trong nước sông này còn được gọi là sông Cửu Long ở đoạn chảy qua Việt Nam. Trong văn bản quốc tế, dạng Mekong là chuẩn. Khi dịch sang tiếng Anh, viết Mekong River hoặc the Mekong; khi viết tiếng Việt, chọn một dạng cho cả văn bản.

Có nên Việt hoá tên địa danh nhỏ ít người biết không?

Không nên. Với địa danh nhỏ, phiên âm hay đặt tên Hán Việt mới chỉ làm người đọc không tra cứu được. Giữ tên gốc bằng chữ Latinh, và nếu cần thì giải thích loại địa danh bằng danh từ tiếng Việt: thị trấn Hallstatt, làng Giethoorn.

Thủ đô các nước có cách viết chuẩn chung trong tiếng Việt không?

Chưa có một danh mục duy nhất áp dụng cho mọi loại văn bản. Văn bản đối ngoại của cơ quan nhà nước có cách viết riêng, báo chí có sổ tay biên tập riêng. Bạn nên theo quy định của nơi xuất bản; nếu không có, theo nguyên tắc Hán Việt còn sống trước, tên gốc sau.

Dịch tên một con phố nước ngoài thì có dịch chữ Street không?

Tên phố nên giữ nguyên dạng gốc, kể cả danh từ chung, vì đó là dạng ghi trên biển và trong địa chỉ: Oxford Street, Rue de Rivoli. Trong văn xuôi tiếng Việt, có thể viết "phố Oxford" cho tự nhiên. Trong địa chỉ dùng để gửi thư, giao hàng, luôn giữ nguyên dạng gốc.

Bài viết liên quan